Vào
một ngày đầu thu năm 2009, Hằng Minh (cựu Tư lệnh Sư đoàn 18 Bộ binh), Thái
Dương (cựu Đại tá TMT/HQ/SĐ18BB), Bảo Định (cựu TĐT/TĐ2/43), Thành (thuộc
TĐ1/43), và một số bạn hữu đến thăm Hùng. Anh sống âm thầm trong ngôi nhà hai phòng
với người vợ trẻ và đứa con trai trưởng đã 35 tuổi bị khuyết tật bẩm sinh.
Hùng
là đứa con của Bình Thuận. Cựu Đại úy Nguyễn Tri Hùng theo học khóa 25 Trường
Võ bị Quốc gia Đà Lạt. Hùng và Dương Trọng Khoát cùng khóa, về trình diện đơn
vị Tiểu đoàn 2/43, trong thời điểm tình chiến sự trên khắp bốn vùng chiến thuật
khá sôi động. Chính những cuộc hành quân tiểu trừ cộng phỉ với những trận đánh
qui mô có lúc đến cấp sư đoàn đã tôi luyện Hùng trở thành một sĩ quan dạn dày
sương gió, tích lũy được nhiều kinh nghiệm chiến trường.
Quê
Hùng ở Phan Thiết thuộc tỉnh Bình Thuận. Bình Thuận không xa Xuân Lộc, chỉ cách
khu Rừng Lá, chỉ cần vài giờ ngồi xe hơi. Có lẽ đó là lý do Hùng chọn về phục
vụ Sư đoàn 18BB. Hùng có người mẹ già đang sống tại thành phố biển này.
Từ
Trung đội trưởng, Đại đội phó rồi Đại đội trưởng, Hùng luôn luôn là một sĩ quan
ưu tú, câu châm ngôn: “Tự Thắng để Chỉ Huy” trên phù hiệu chiếc nón casquette
của người SVSQ/VB/Đà Lạt, Hùng vẫn thuộc nằm lòng.
Năm
1974, trong cuộc hành quân giải tỏa xã Thái Hưng, quận Công Thanh thuộc tỉnh
Biên Hòa, Hùng đã chứng tỏ là một cấp chỉ huy gan dạ và mưu lược. Đại đội 3/2
của Hùng, sau khi hoàn tất cuộc vượt sông, khi toán quân cuối cùng đặt chân lên
bờ vào lúc 1 giờ sáng, ngay trong đêm tối, dù lạ địa thế, Hùng đã chỉ huy đại
đội đánh thốc vào đội hình của cộng quân. Đánh đêm là sở trường của VC, chúng
không bao giờ ngờ rằng lính cộng hòa cũng có thể đánh đêm. Hùng và quân sĩ dưới
quyền đã tiến công như vũ bão, đè bẹp đối phương. Bọn chúng ngơ ngác, bất ngờ
và hoảng sợ, chỉ kịp tóc hầm bỏ chạy, không kịp mang theo vũ khí cộng đồng và
đồng đội thương vong. Nhiều kẻ địch bị hạ sát, nhiều vũ khí bị tịch thu, nhiều
gói cơm nắm nằm rải rác…. Mũi tấn công Đại đội 3/2 của Hùng và Đại đội 2/2 của
Trung úy Võ Văn Mười, đã tiến xa, tiến sâu vào vùng đất do Trung đoàn 165/CSBV
chiếm đóng, vượt xa ngoài sự mong ước của Tiểu đoàn trưởng.
Khi
trời sáng, hai mũi tiến công của Mười và Hùng đã đến tận cuối làng 2 (xã Thái
Hưng có 4 làng, chỉ trong nửa đêm, quân ta đã chiếm được hai làng:1 và 2). Tại
đây họ đã chạm phải một đơn vị cấp đại đội đang bảo vệ 1 khẩu thượng liên 12ly7
và 1 khẩu cối 82ly. Nhưng đơn vị VC này đã bị Đại đội 1 của Trung úy Nguyễn Mỹ
thanh toán ngày hôm sau. Những ngày kế tiếp, đám cộng quân bố trí ở làng 3 và
làng 4 lần lượt bị đánh bật ra khỏi làng. Xã Thái Hưng hoàn toàn được giải tỏa.
Mười một ngôi nhà thờ bị ăn bom đạn nghiêng ngã xiêu vẹo. Vì đó là những vị trí
tốt nên cộng quân đặt súng phòng không, và những khẩu thượng ly 12ly7 bắn cản
bước tiến của quân bạn. Chính các cha xứ đã gặp Tướng Đảo và cho phép quân bạn
được đánh bom và bắn pháo để triệt hạ những dàn súng cộng đồng đó. Các cha còn
nói rằng miễn sao tiết kiệm được xương máu của quân sĩ và nhanh chóng đánh đuổi
cộng quân, để người dân có thể trở về làng cũ.
Nhà
cửa, thánh đường bị hư hại, nhưng các cha và dân làng đã rất hoan hỹ, cám ơn
người lính cộng hòa đã đuổi được cộng quân, mang lại thanh bình về cho thôn
xóm. Ngay trong những ngày khói lửa mịt mù, người dân làng hầu hết đã tản cư
qua bên kia sông Đồng Nai, tụ họp tại bến đò xã Đại An, nấu khoai sắn, và xôi
gởi qua sông giúp lính cộng hòa đánh giặc. Sau trận chiến, những người chiến
binh vừa buông tay súng, đã kịp thời giúp dân làng xây dựng lại nhà cửa từ
những đổ nát.
Tất
cả đều được phóng viên Nguyễn Cầu của đài truyền hình quân đội ghi lại trong
một cuốn phim nhựa dài 23 phút với tựa đề “Trở Về Làng Cũ”. Anh đã bám sát theo
đơn vị ngay từ lúc vượt sông, đã ghi lại những thước phim sinh động, nhất là
hình ảnh cảnh quân ta và quân địch dằn co nhau khẩu thượng liên 12ly7, nhưng
quân ta đã thắng. Trong những ngày cuối cùng, khi Sài Gòn hấp hối, cuốn phim
này đã được chiếu đi chiếu lại nhiều lần trên đài truyền hình quân đội, có lẽ
với dụng ý quân đội ta anh hùng, lúc đầu bất ngờ có thể thua, nhưng cuối cùng
nhất định sẽ thắng. Cộng quân nhất định sẽ bị tiêu diệt. Nhưng đã quá muộn!
Định mệnh đã an bài.
Cuối
tháng 12 năm 1974, Trung đoàn 33 Long Khánh tiến đánh xã Võ Đắc, quận lỵ Hoài
Đức thuộc tỉnh Bình Tuy. Cùng với Trung đoàn 812 Sông Mao, chúng đã chiếm được
quận Tánh Linh, các xã Sùng Nhơn, Võ Su. Tại xã Võ Đắc, chúng đã kiểm soát toàn
bộ, chỉ còn một lõm nhỏ là quận đường và BCH/CK là chưa bị chiếm. Sau 33 ngày
đêm bị vây hãm, tình trạng thật bi đát, nhưng “tin vui đã đến giữa giờ tuyệt
vọng”. Đó là lúc quá trưa ngày 4 tháng 1 năm 1975, Đại đội 3/2 của Hùng, Đại
1/2 của Trung úy Nguyễn Văn Hào, cũng là một đứa con Bình Thuận, và các đơn vị
khác của Tiểu đoàn 2/43, từ ấp Trà Cổ hoang phế bên kia sông La Ngà thuộc quận
Định Quán, trực thăng vận nhảy lên ngay trên đầu giặc, đánh từ trong ra, theo
kế hoạch nở hoa. Hai đứa con Bình Thuận, một đứa con Gò Công (Trung úy Võ Văn
Mười), và hai đứa con của Long Khánh (Trung úy Hà Văn Dương và Trung úy Võ Kim
Thạch), là những Đại đội trưởng ưu tú, những chiến sĩ oai hùng của QLVNCH, xem
cái chết “nhẹ tựa lông hồng”, đã cùng quân sĩ dưới quyền, quyết tâm dành lại
mảnh đất quê hương đang bị giặc cộng xâm chiếm. Họ đã chiến đấu dũng mãnh. Sau
4 ngày đêm tử chiến với cộng quân, được sự yểm trợ hữu hiệu của pháo binh sư đoàn,
không quân Biên Hoà, Phan Rang, và từ Cần Thơ, đã loại nhiều cộng phỉ khỏi vòng
chiến đấu. Số thương vong của cộng quân theo người dân cho biết, lên đến con số
ngàn, chất đầy trên những chiếc xe bò, xe trâu, ngày đêm liên tục kéo vào khu
rừng Tánh Linh. Trong trận đánh đêm để dứt điểm đám tàn quân, cánh quân của
Hùng và Hào, khi truy đuổi địch, đã phát hiện một đống vũ khí đủ loại với một
mảnh giấy viết vội, nét chữ nguệch ngoạc, nhưng có vẻ tiếu lâm: “Tặng các anh.
Chúng tôi chịu thua phen này. Hẹn găp lại!”. Cuối cùng Võ Đắc đã được giải tỏa,
các xã Võ Su và Sùng Nhơn lần lược được tái chiếm. Cuộc sống thanh bình đã trở
lại thôn xưa.
Tại
mặt trận Định Quán tháng 3/75, khi Tiểu đoàn 2/43 từ Xuân Lộc, được lệnh di
chuyển đi Định Quán để bảo vệ điểm trọng yếu này trên QL20, một tiền đồn xa bảo
vệ Thủ đô Sàigòn. Ngay trong đêm đầu tiên đến Định Quán, Đại đội 1/2 của Trung
úy Nguyễn Văn Hào đã tiêu diệt gọn một toán cán binh cao cấp cộng quân đang đi
thị sát thực địa lần chót trước khi mở cuộc tấn công Định Quán vào lúc 5 giờ
sáng. Sau một ngày dù chiến đấu kiên cường, quận lỵ đã bị cộng quân chiếm, các
cao điểm chung quanh lần lượt lọt vào tay giặc, chỉ còn lại vị trí TĐ2/43 (gồm
Đại đội Chỉ huy & Yểm trợ và Đại đội 2/2 của Trung úy Võ Văn Mười). Tiểu đoàn
bị bao vây. Trung đoàn 141 thuộc Sư đoàn 7/CSBV liên tục mở cuộc tấn công.
Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hữu Chế cho lệnh vị Trung đội trưởng pháo binh
bắn trực xạ, và xử dụng những trái đạn chống biển người (được biết mỗi trái đạn
pháo chống biển người chứa 3,000 mũi tên). Nhưng cấp chỉ huy cộng quân vốn coi
rẻ sinh mạng con người, lớp này ngã, chúng lại xô đẩy lớp khác tiến lên. Chúng
như những con thiêu thân lao vào ánh đèn.
Vị
trí phòng thủ của tiểu đoàn tưởng sẽ bị tràn ngập, nếu vị Tiểu đoàn trưởng không
táo bạo xin đánh bom ngay trên đầu mình. Những chiến đấu cơ F5E, A37 thay nhau
trút bom lên đầu giặc, phá tan đội hình tấn công của chúng. Những trái bom đánh
táo bạo cũng đã gây một số thiệt hại cho quân bạn. Lợi dụng lúc địch quân đang
bối rối, Thiếu tá Chế cho lệnh đại đội của Trung úy Hùng đang nằm tiền đồn bên
ngoài, kéo nhanh về phòng thủ chung với tiểu đoàn. Hùng đã chỉ huy đơn vị đột
phá vòng vây địch, đưa được đại đội về với tiểu đoàn, lập tuyến phòng thủ cùng
với Đại đội 2/2 của Trung úy Mười và Đại Chỉ huy & Yểm trợ của Trung úy Võ
Kim Thạch. Đoạn tuyến vỡ do hai trái bom đánh gần đã được nối lại. Nhưng cộng
quân mỗi lúc lại tập trung thêm quân quyết tiêu diệt TĐ2/43. Sau một ngày đêm
chống trả kiên cường, đây là cứ điểm cuối cùng còn đứng vững. Quận đường,
BCH/Chi khu, các cao điểm do ĐPQ và NQ trấn giữ đều lọt vào tay giặc. Thiếu tá
Chế xin lệnh trên cho Tiểu đoàn phá vòng vây địch, lui về một cụm đồi xa về
hướng Tây hầu tìm cách rút về cầu sông La Ngà để tái bổ sung và tản thương.
Tháng
4/75, trận chiến Xuân Lộc, cũng là trận chiến thắng cuối cùng của QLVNCH trước
quân xâm lăng CSBV, đơn vị của Hùng được chỉ định phòng thủ khu vực Đông Nam
của căn cứ Núi Thị. Trong những ngày chuẩn bị trận chiến, Tướng Tư lệnh đã cho
kéo lên đây 12 khẩu pháo, vừa 105 và 155ly. Chính dàn pháo hùng hậu này của sư
đoàn là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi. Nhưng điều quan trọng,
TĐ2/43 đã bảo vệ vững chắc căn cứ hỏa lực này trong suốt trận chiến.
Đại
đội của Hùng bố trí quân trên một thế đất thoai thoải, phía Đông Nam của Núi
Thị. Nhưng đại đội không phải bố trí quân trên một tuyến đơn giản, mà thiết lập
nhiều tuyến, với nhiều tiền đồn và tổ phục kích. Nhờ những toán tiền đồn và tổ
phục kích xa, trong suốt trận chiến, cộng quân không thể nào vào gần để đặt
súng cối bắn quấy phá. Do đó dàn pháo 12 khẩu đã có thể yểm trợ đắc lực cho
quân bạn, và không hề bị khống chế do pháo của cộng quân. Nhưng tuyến phòng thủ
đơn vị Hùng là nơi bị ăn đạn pháo của cộng quân nhiều nhất. Những trái đạn pháo
oan nghiệt và tàn bạo của cộng quân đã cướp mất mạng sống của vị Thiếu úy ĐĐP
(kế đến là vị Đại úy ĐĐT thay Hùng) và làm Hùng bị thương nặng. Hùng bị nhiều
mảnh đạn ghim vào người, và một mảnh nằm trong đầu. Hùng được trực thăng tải
thương về quân y viện. Vết thương chưa lành, Hùng bị xuất viện khi ngày oan
nghiệt 30/4/75 đến.
Hùng
định cư tại tiểu bang Washington. Cuộc sống tưởng đã ổn định nơi đất khách quê
người. Nhưng một tai họa đã giáng xuống đầu Hùng và gia đình Hùng. Hùng bị tai
nạn xe hơi, cũng không nặng lắm. Tan sở, trên đường về nhà, mệt nhọc và buồn
ngủ, Hùng bị lạc tay lái, đâm vào một gốc cây bên vệ đường. Vết thương nhẹ,
nhưng phải vào bệnh viện. Tại đây, mảnh đạn oan nghiệt còn nằm trong đầu từ
trận chiến Xuân Lộc năm xưa đã làm hại đời Hùng. Khi phát hiện ra mảnh đạn
trong đầu, Bác sĩ quyết định giải phẩu. Nhưng cuộc giải phẩu không thành công,
khiến Hùng trở thành một phế nhân.
Chúng
tôi đến thăm Hùng vào một buổi sáng. Đó là một buổi sáng đầu thu năm 2009. Nhà
Hùng ở cách trung tâm thành phố Seattle lối một giờ xe. Nhà có hai phòng, khá
khang trang, nằm sâu trong khu dành cho những người handicap. Hùng có 3 người
con, hai người con kế đi làm xa, ở riêng. Đứa con trai đầu lòng sống chung với
bố mẹ trong căn nhà lạnh lẽo đó. Đúng là căn nhà lạnh lẽo! Nhà không có tiếng
nói cười. Cậu con trai bị khuyết tật bẩm sinh, nói năng không thành lời, chỉ ú
ấ. Còn Hùng thì trở nên trầm lặng, ít nói, bị bại liệt nửa người, đi lại khó
khăn trên chiếc xe lăn. Chị Hùng còn trẻ, dáng người nhanh nhẹn. Tội nghiệp cho
người vợ trẻ, từng là vợ lính, vợ tù cải tạo, tháng ngày thấp thỏm đợi chờ mong
tin chồng.
Bây
giờ chồng đó, con đó, nhưng hạnh phúc gia đình đã vuột khỏi tầm tay. Chị Hùng
bây giờ không những là một người vợ, một người mẹ, còn là một nữ điều dưỡng,
hằng ngày săn sóc cho hai bệnh nhân đặc biệt. Có lẽ ngôi nhà thiếu tiếng nói,
vắng tiếng cười, nên khi gặp chúng tôi, chị đã nói năng không dứt lời. Có chúng
tôi đến thăm, những đồng đội của chồng năm xưa, nhất là sự hiện diện của Bảo
Định, cấp chỉ huy trực tiếp, đã bao lần vào sinh ra tử với chồng, làm cho chị
ấm lòng, và là một dịp hiếm có để chị tâm sự, mà ngày này qua ngày khác, chị
phải sống âm thầm, câm lặng trong ngôi nhà lạnh lẽo và buồn thảm như một nấm
mồ. Chị Hùng là mẫu người vợ lính đảm đang và can trường.
Hùng
ngồi đó, yên lặng trên chiếc xe lăn, gần như bất động. Trông Hùng đờ đẫn, khuôn
mặt trắng bệch, vì đã nhiều ngày thiếu ánh nắng mặt trời, thật đáng thương. Nét
tinh anh ngày nào của một sĩ quan oai hùng không còn nữa. Mới ngày nào, Hùng
cùng đồng đội, những chiến binh Tiểu đoàn 2/43, trong một thời gian dài, đã làm
khiếp vía cộng quân, nhất là Trung đoàn 33 Long Khánh (đơn vị VC thưòng xuyên
chạm súng với TĐ2/43). Một trong những tên tù binh bị bắt cấp B trưởng, tức
trung đội trưởng, khi thấy quân ta đối xử tử tế, đã thành thật tâm sự: “Bọn em
được lệnh của thủ trưởng E (tức Trung đoàn trưởng) chỉ thị rằng khi giao chiến
với TĐ2/43 thì phải tìm cách đoạn chiến và chém vè”.
Là
đứa con của Bình Thuận, vùng đất “địa linh nhân kiệt”, Hùng đã đóng góp chính
xương máu của mình để làm rạng danh vùng đất biển mặn này. Bình Thuận là nơi
dừng chân vào lúc cuối đời của Nguyễn Thông, một sĩ phu yêu nước thời kỳ thực
dân Pháp mới đặt chân đến Việt Nam.
Bình
Thuận cũng là nơi đã cưu mang Nguyễn Tất Thành, đứa con oan nghiệt, tức Hồ Chí
Minh sau này, trên đường tha phương cầu thực, đã ghé lại Phan Thiết kiếm ăn một
thời gian ngắn trước khi vào Sài Gòn, xuống tàu làm bồi đi sang Pháp, lê gót
chân đi ta bà thế giới, cuối cùng dừng chân tại Nga, bị nhuộm đỏ, để rồi trở
thành Chủ tịch đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Cộng sản.
Ngô
Đình Diệm, vị Tổng Thống đầu tiên của VNCH, từng làm Tuần Vũ Bình Thuận trước
khi được triệu về Kinh đô Huế giữ chức Thượng Thư Bộ Lại, nhưng rồi từ chức,
suýt bị Hồ Chí Minh giết, bôn ba khắp trời Âu, trời Mỹ hoạt động, vận động
ngoại giao, mưu cầu cứu nước.
Chúa
Nguyễn Ánh, người có công thống nhất giang sơn sau gần 3 trăm năm phân tranh
Nam Bắc, đế hiệu Gia Long (Gia: Gia Định, Long: Thăng Long) là biểu trưng của
Việt Nam thống nhất, đã từng dừng chân tại Bình Thuận trong thời kỳ phục quốc
đánh nhau với nhà Tây Sơn, và vết chân của vị Chúa này như còn ẩn hiện đâu đây.
Nguyễn
Văn Thiệu, vị Tổng Thống của nền Đệ nhị Cộng Hòa, sinh trưởng tại Phan Rang,
vùng đất thuộc Bình Thuận ngày trước.
Ngoài
ra không ai trong chúng ta là không nghe tiếng Dũng Chinh, tác giả bản nhạc nổi
tiếng “Những Đồi Hoa Sim” (thơ Hữu Loan), với tiếng ca ngọt ngào của ca sĩ
Phương Dung; nhạc sĩ kiêm ca sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh với hằng trăm bản
nhạc ngợi ca người lính VNCH, anh chết đi là một mất mát lớn của Bình Thuận, đã
để lại muôn vàng thương tiếc cho những người yêu nhạc lính.
Mong
rằng hồn thiêng sông núi sẽ phù hộ cho Hùng sớm có những ngày vui, sớm khôi
phục, để trở về cuộc sống đời thường của một kẻ lưu vong tỵ nạn, chờ ngày trở
lại quê hương, như bao nhiêu triệu người đang phải tạm nhận quê người làm quê
mình.
Michigan,
một ngày cuối Thu năm 2009
BẢO
ĐỊNH NGUYỄN HỮU CHẾ
 |
Từ trái: Hùng, Tài, Tham, Phương, Hải (ĐH K25 năm 2000 tại Nam Cali)
|